info@cbilaw.vn
+ (84) 028 3979 8855

Cho thuê lại lao động trong lĩnh vực công nghệ thông tin

Trong bối cảnh Việt Nam ngày càng tham gia sâu vào chuỗi cung ứng nhân lực công nghệ thông tin toàn cầu, nhiều doanh nghiệp công nghệ nước ngoài có nhu cầu sử dụng kỹ sư Việt Nam theo các mô hình linh hoạt, đặc biệt là làm việc từ xa, mà không thiết lập hiện diện thương mại tại Việt Nam.

Ảnh minh hoạ

Theo pháp luật Việt Nam, việc sử dụng lao động Việt Nam gắn liền với nghĩa vụ giao kết hợp đồng lao động và thực hiện đầy đủ các khoản bảo hiểm bắt buộc. Trên thực tế, để đáp ứng các nghĩa vụ này mà không phải trực tiếp hiện diện tại Việt Nam, nhiều doanh nghiệp nước ngoài lựa chọn hợp tác với các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ nhân sự trong nước.

Tuy nhiên, tùy thuộc vào cách thức tổ chức và triển khai trên thực tế, mô hình hợp tác nêu trên có thể bị xem xét là hoạt động cho thuê lại lao động – một ngành nghề kinh doanh có điều kiện theo Bộ luật Lao động 2019. Vấn đề đặt ra là liệu các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ nhân sự tại Việt Nam có được phép cho thuê lại lao động trong lĩnh vực công nghệ thông tin hay không, và đâu là ranh giới pháp lý giữa cho thuê lại lao động và hợp đồng cung ứng dịch vụ trong lĩnh vực này.

Theo Bộ luật Lao động 2019 và Nghị định số 145/2020/NĐ-CP, cho thuê lại lao động được hiểu là việc người lao động giao kết hợp đồng lao động với doanh nghiệp cho thuê lại lao động, sau đó được doanh nghiệp này đưa sang làm việc và chịu sự điều hành, quản lý trực tiếp của bên sử dụng lao động trong một thời hạn nhất định, trong khi quan hệ lao động vẫn được duy trì với doanh nghiệp cho thuê. Theo đó, cho thuê lại lao động là ngành nghề kinh doanh có điều kiện và chỉ được thực hiện đối với các công việc thuộc danh mục do Chính phủ quy định.

Theo Phụ lục II ban hành kèm theo Nghị định số 145/2020/NĐ-CP, pháp luật Việt Nam quy định danh mục cụ thể các công việc được phép thực hiện theo hình thức cho thuê lại lao động, bao gồm:

1. Phiên dịch/Biên dịch/Tốc ký

2. Thư ký/Trợ lý hành chính

3. Lễ tân

4. Hướng dẫn du lịch

5. Hỗ trợ bán hàng

6. Hỗ trợ dự án

7. Lập trình hệ thống máy sản xuất

8. Sản xuất, lắp đặt thiết bị truyền hình, viễn thông

9. Vận hành/kiểm tra/sửa chữa máy móc xây dựng, hệ thống điện sản xuất

10. Dọn dẹp vệ sinh tòa nhà, nhà máy

11. Biên tập tài liệu

12. Vệ sĩ/Bảo vệ

13. Tiếp thị/Chăm sóc khách hàng qua điện thoại

14. Xử lý các vấn đề tài chính, thuế

15. Sửa chữa/Kiểm tra vận hành ô tô

16. Scan, vẽ kỹ thuật công nghiệp/Trang trí nội thất

17. Lái xe

18. Quản lý, vận hành, bảo dưỡng và phục vụ trên tàu biển

19. Quản lý, giám sát, vận hành, sửa chữa, bảo dưỡng và phục vụ trên giàn khoan dầu khí

20. Lái tàu bay, phục vụ trên tàu bay/Bảo dưỡng, sửa chữa tàu bay và thiết bị tàu bay/Điều độ, khai thác bay/Giám sát bay

Có thể thấy, các công việc mang tính đặc thù của lĩnh vực công nghệ thông tin không được liệt kê một cách cụ thể trong danh mục công việc được phép thực hiện theo hình thức cho thuê lại lao động. Tuy nhiên, trong danh mục này có một số loại công việc có thể liên quan đến lĩnh vực công nghệ thông tin, bao gồm “lập trình hệ thống máy sản xuất” và “hỗ trợ dự án”.

Theo ý kiến của Sở Lao động – Thương binh và Xã hội (nay là Sở Nội vụ) TP. Hồ Chí Minh, trong trường hợp người lao động được thuê lại tham gia trực tiếp vào hoạt động hỗ trợ và chịu sự điều hành, quản lý, phân công nhiệm vụ của bên thuê lại lao động nhằm thực hiện các dự án xây dựng, nâng cấp hoặc bảo trì phần mềm, thì các công việc này có thể được xem là công việc “hỗ trợ dự án”, thuộc nhóm công việc được phép thực hiện theo hình thức cho thuê lại lao động theo quy định pháp luật hiện hành[1]. Tuy nhiên, việc áp dụng nhóm công việc “hỗ trợ dự án” đối với các vị trí công nghệ thông tin không mang tính mặc nhiên, mà cần được xem xét trên cơ sở bản chất của giao dịch và cách thức tổ chức, triển khai công việc trên thực tế. Theo đó, việc lựa chọn mô hình hợp tác phù hợp phải căn cứ vào phạm vi công việc, mức độ tham gia của người lao động, cũng như mối quan hệ quản lý, điều hành giữa các bên.

Do đó, trong trường hợp mô hình hợp tác giữa doanh nghiệp nước ngoài và doanh nghiệp cung cấp dịch vụ nhân sự tại Việt Nam mang bản chất của hoạt động cho thuê lại lao động đối với các vị trí công nghệ thông tin nhưng không đáp ứng điều kiện về loại công việc được phép cho thuê lại, mô hình này có thể đối mặt với rủi ro không phù hợp với khuôn khổ pháp lý hiện hành.

Trên thực tế, nhiều doanh nghiệp lựa chọn ký kết hợp đồng cung ứng dịch vụ với các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ nhân sự như một giải pháp thay thế, đặc biệt đối với các dự án mang tính chuyên môn cao, được triển khai theo sản phẩm hoặc theo kết quả đầu ra. Tuy nhiên, để mô hình này phản ánh đúng bản chất pháp lý của giao dịch và tránh nguy cơ bị xem là cho thuê lại lao động trái phép, nội dung hợp đồng và cách thức triển khai cần thể hiện rõ tính độc lập của bên cung cấp dịch vụ, bao gồm quyền tổ chức nhân sự, phương thức quản lý, trách nhiệm đối với kết quả công việc và việc không đặt người lao động dưới sự điều hành trực tiếp của bên sử dụng dịch vụ.

Trong bối cảnh môi trường pháp lý ngày càng hoàn thiện và yêu cầu tuân thủ ngày càng rõ ràng, cách tiếp cận thận trọng, dựa trên bản chất hoạt động và tầm nhìn dài hạn, sẽ giúp doanh nghiệp cân bằng hiệu quả hơn giữa tính linh hoạt trong vận hành và mức độ an toàn pháp lý.

Luật sư Ý Huỳnh – Công ty Luật TNHH CBI

Bài viết này chỉ nhằm mục đích cung cấp thông tin chung và không được xem là ý kiến tư vấn pháp lý cho bất kỳ trường hợp cụ thể nào. Các quy định pháp luật được dẫn chiếu trong bài viết có hiệu lực tại thời điểm đăng tải, nhưng có thể đã được sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc hết hiệu lực tại thời điểm Bạn đọc quan tâm. Do đó, Chúng tôi khuyến nghị Bạn đọc nên tham khảo ý kiến của luật sư trước khi áp dụng.

Mọi thắc mắc hoặc nhu cầu tư vấn dịch vụ pháp lý có liên quan, Quý khách vui lòng liên hệ Công ty Luật TNHH CBI để được hỗ trợ.


[1]  https://doithoaidn.hochiminhcity.gov.vn/index.php/cauhoi/xemcauhoi/20746

Leave a Reply